GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

Life in Vietnam through a looking-glass darkly

(185 trang khổ nhỏ, bìa cứng, không đề giá bán)

Tác giả Nguyễn Ngọc Phách
Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ
6433 Northanna Drive
Springfield, VA 22150

Bài của Đàm Trung Pháp

Đã từ lâu tôi để ý đến các nỗ lực dịch thơ tiếng Việt sang tiếng Anh và thường bị thất vọng, vì đa số các nỗ lực ấy chỉ là để chuyển ý nghĩa các câu thơ Việt sang các câu văn xuôi tiếng Anh, nghe nhạt nhẽo và thấy tội nghiệp cho các câu thơ nguyên tác. Dịch thơ là một thử thách to lớn, và người dịch phải có bản lãnh cao cường lắm mới mong thành tựu. Vui thay, cái thành tựu mà tôi mong đợi từ lâu đó đã đến với tôi trong cuốn sách Life in Vietnam through a looking-glass darkly vừa xuất bản của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Phách.

Loại thơ Việt được dịch sang thơ Anh trong cuốn sách này là các bài vè dân gian mà có lẽ phần lớn chúng ta đã nghe qua. Ngót 80 bài đã được dịch giả gạn lọc trong vô số các bài vè phát xuất từ miệng người dân Việt liên hệ đến những phiền lụy, bực bội trong cuộc sống tại quê nhà. Những đoạn thơ lục-bát chỉ đôi ba câu, ý tứ sâu sắc , lời lẽ gọn gàng đanh thép, dễ thuộc lòng ấy đã chế giễu, chỉ trích, hoặc lên án một chế độ mà giới lãnh đạo đã làm nhiều điều tai hại cho dân chúng. Nguyễn quân đã xếp thứ tự các bài vè theo các mốc thời gian như sau: (1) Thời xa xưa: 15 bài, gồm các bài như “Thương thay cây quế giữa rừng / Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo”, “Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo / Việt Nam độc lập chết co đầy đường”, vân vân. (2) Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa:17 bài, trong đó có các bài “Có đói mà chẳng có no / Lấy gì độc lập, tự do, hỡi người”, “Sửa sai rồi lại sửa sai / Sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai”, “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý / Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do”, vân vân. (3) Thời Xã Hội Chủ Nghĩa: 20 bài, trong đó có “Đầu đường Đại tá vá xe / Cuối đường Trung tá bán chè đậu đen / Giữa đường Thiếu tá rao kem”, “Trồng mía, trồng ớt, trồng hành / Vì nghe lời Đảng mà thành bể niêu / Trồng tiêu rồi lại trồng điều / Vì nghe lời Đảng mà niêu tan tành”, “Thanh cha, thanh mẹ, thanh gì? / Hễ có phong bì thì nó thank you”, vân vân. (4) Thiên Niên Kỷ Mới: 14 bài, trong đó có “Đảng ta là đảng thần tiên / Đa-lô thì được, đa-nguyên thì đừng”, “Ngày đi, Đảng gọi “Việt gian” / Ngày về thì Đảng chuyển sang “Việt kiều” / Chưa đi: phản động trăm chiều / Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng”, “Dịch heo nối tiếp dịch gà / Bao giờ dịch Đảng cho bà con vui”, vân vân. (5) Lãnh Tụï: 11 bài, trong đó có “Dép râu dẫm nát đời son trẻ / Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai”, “Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng / Cả ba đồng lòng giết chết con tôi”, “Giỏi a! Đồng chí Đỗ Mười / Lớp Ba chưa đỗ đã ngồi Bí thư”, vân vân.

Những bài vè nêu trên đã được Nguyễn quân dịch sang thơ Anh với đầy đủ vần điệu mà vẫn giữ trọn được ý nghĩa nguyên tác. Nhiều khi dịch giả phải cho thêm chi tiết vào bản dịch để cho rõ nghĩa trong tiếng Anh, nhất là trong các trường hợp chơi chữ (“Đa-lô thì được, đa-nguyên thì đừng”), dùng điển tích (“Bắt phanh trần phải phanh trần”), hoặc “ý tại ngôn ngoại” (“Hợp tác lên to / Lấy mo đựng thóc”) trong câu vè tiếng Việt. Trong tiếng Anh, tiếng Mỹ cũng có những loại thơ tương tự với các bài vè Việt, đó là các bài “doggerels” hoặc “limericks” vô hại mà mục đích chỉ là mua vui chốc lát cho người đọc. Doggerels, với nhịp điệu bất chấp quy tắc, miễn sao có vần là được, thường bị coi là loại thơ dở. Bài doggerel dưới đây mang máng loại thơ “con cóc” trong ngôn ngữ chúng ta: “She kissed the hairbrush / By mistake / She thought it was / Her husband Jake.” Limericks thì khó làm hơn vì phải theo quy luật nhất định: đó là một bài vè gồm 5 câu theo mô thức gieo vần “aabba”; câu 1, 2, và 5 có ba vế (feet), và câu 3 và 4 có hai vế. Các vế này đều thuộc loại “anapestic” tức là mỗi vế có 3 âm tiết (syllables), trong đó hai âm tiết đi trước không nhấn mạnh (unstressed) và âm tiết đi sau nhấn mạnh (stressed). Limericks phần nhiều có nội dung không được thanh tao, trong đó nghệ thuật chơi chữ (puns) nổi bật, thí dụ như bài dưới đây: “There once was a man from Nantucket / Who kept all his cash in a bucket / But his daughter named Nan / Ran away with a man / And as for the bucket, Nantucket.” Dù theo hình thức nào, các bài dịch của Nguyễn quân cũng rất chỉnh, vừa giữ được ý nghĩa nguyên tác, vừa cố gắng tôn trọng âm luật và vận luật của thi pháp tiếng Anh. Và cách sử dụng từ ngữ cũng như cú pháp của Nguyễn quân thì tuyệt luân, không thể chê trách vào chỗ nào được. Tôi xin chia xẻ với quý độc giả vài bài trong số những bài dịch của Nguyễn quân mà tôi tương đắc nhất:

Mất mùa là bởi thiên tai
Được mùa là bởi thiên tài Đảng ta.
Bad harvests are always blamed on some calamity
But a good one is simply traced to Party ingenuity.

Có con mà gả chồng gần
Nửa đêm xe đạp mang phần cho cha.
Có con mà gả chồng xa
Tháng tháng nó gửi đô-la kìn kìn.
With thy son-in-law living in the vicinity
Thy daughter can take good care of thee.
But had she married some overseas guy
She would send thee dollars by the pile.

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do.
When Justice Street is re-signed with abandon
Boulevard of the Great Southern Revolution,
The bells of General Insurrection
Really toll the death of Freedom.
That’s how Southerners view their “Liberation”.

Vẻ vang thay lãnh tụ ta
Đem dân xuất khẩu bán ra nước ngoài!
Hail to the Helmsman-in-Chief!
Glory to the Party leadership!
Who’d have thought of people for export?
Only the great Helmsman and his cohort.

Độc giả Anh-Mỹ-Úc quen thuộc với lối thơ “limerick” của họ sẽ thích thú các bài được Nguyễn quân chuyển sang thơ tiếng Anh theo hình thức ấy (mà tôi đã giải thích bên trên), như bài dưới đây:

Vạn Niên là Vạn Niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.
It was hailed as the Vạn Niên Mausoleum
And, thus, would last ten thousand autumns.
But how many soldiers were killed
How much human blood was spilled
During the construction of this royal tomb?

Để cho độc giả ngoại quốc (hoặc độc giả gốc Việt nhưng không thạo lịch sử và nếp sống Việt Nam) thấu hiểu ý nghĩa những bài dịch, tác giả đã bỏ công sức ra viết những lời giải thích, những phụ chú cuối trang (footnotes) nghiêm túc và uyên bác. Chẳng hạn như đi kèm với bản dịch bài vè vừa kể trên về Lăng Tự Đức, tác giả đã giải thích gọn gàng về cấu trúc 5 tòa nhà của cái lăng tẩm hoàng đế đẹp nhất nước nhà cũng như vài chi tiết liên hệ khác. Những lời giải thích, những phụ chú kỹ lưỡng này làm tăng thêm giá trị cuốn sách rất nhiều, vì chúng là những bài học nho nhỏ nhưng sống động và hấp dẫn về dân tộc học. Vì vậy tôi không lấy làm lạ khi thấy một nhà báo lão thành người Úc, ông Denis Warner, nhiệt tâm xác nhận rằng ông đã “học hỏi thêm được về lịch sử, địa dư, kinh tế, và chính trị, tất cả trong cuốn sách nho nhỏ này.”

Cùng với lời chúc mừng chân thành cho tác giả Nguyễn Ngọc Phách, tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách độc đáo, lạ lùng, và vô cùng hấp dẫn mang tên Life in Vietnam through a looking-glass darkly với độc giả bốn phương.

Đàm Trung Pháp
Giáo Sư Thực Thụ (Ngữ Học)
Phân Khoa Giáo Dục
TEXAS WOMAN’S UNIVERSITY

Cập nhật: Ngày 19 tháng 2 năm 2006